Close
HÀ NỘI : 0965 524 005 - HCM : 0904 746 368
(0) sản phẩm
Bạn không có sản phẩm nào trong giỏ hàng của bạn.
Tất cả danh mục
    Filters
    Ngôn ngữ
    Tìm kiếm

    Vi chất trong đời sống thực vât

    26 Tháng Hai 2015

    Các nguyên tố dưới đây là vô cùng quan trọng đối với cây trồng dù chúng chỉ cần ở mức vi lượng.

    Với dung dịch thủy canh của thapxanh các vi chất đã đảm bảo đầy đủ theo đúng công thức của Isarel cho môi trường cận nhiệt đới.

    1. Nguyên tố Sắt – Fe:

    - Hàm lượng & sự phân bố: Ở cây trồng, hàm lượng Fe chiếm từ 100-300 mg/kg (theo trọng lượng chất khô) và khác nhau giữa các loài, các bộ phận của cùng một loại cây. Các loại cây rau, đậu cần nhiều Fe hơn cây ngũ cốc; Trong cây ngũ cốc, thân cây cần nhiều Fe hơn phần quả, hạt.

    - Fe được cây trồng huy động dưới dạng Fe2+ và dạng phức vòng càng. hầu như mọi loại cây đều khó huy động được Fe dưới dạng Fe3+ bởi tính kết tủa khi gặp pH cao của nó. Qua khoảng cách dài vận chuyển trong mạch gỗ, phức hợp Fe3+ chiếm ưu thế; chúng bị ô xy hóa từ Fe2+ thành Fe3+ ở tế bào rễ và sau đó được phức hóa bởi acid citric.

    - Chức năng sinh lý của sắt:

    + Fe tham gia xây dựng nên lục lạp và chức năng quang hợp: Có khoảng 80% tổng lượng sắt cư ngụ ở lục lạp trong những lá cây đang sinh trưởng mạnh, ngoại trừ lượng sắt ở trạng thái dưỡng chất. Sắt không phải là thành phần của lục lạp nhưng nó là nguyên tố thiết yếu trong quá trình tổng hợp nên lục lạp. Fe là nguyên tố gần như bất động và thường biểu hiện triệu chứng thiếu hụt trên những lá non. Sắt chẳng những tác động lên hệ thống ô xy hóa khử mà còn tác động lên quá trình quang hóa phosphat và quá trình tổng hợp CHO.

    + Fe tham gia quá trình vận chuyển điện tử trong cây: Sắt được xem như một nguyên tố dễ biến đổi bởi nó rất dễ thay đổi trạng thái ô xy hóa; hiện tượng Fe3+ + e → Fe2+ thường xảy ra ở ferredoxin, nitrogenase, nitrate & nitrite reductases.

    + Trong hô hấp: Fe là thành phần cấu tạo nên các enzyme cần thiết cho quá trình hô hấp của cây như xytochrome; catalase.

    - Triệu chứng thiếu hụt Fe trong cây: Biểu hiện đặc chưng khi cây thiếu hụt Fe thường thấy ở những lá non nhất, triệu chứng biến vàng phần thịt lá nhưng gân lá vẫn còn xanh; khi thiếu hụt nghiêm trọng thì phần thịt lá biến màu trắng và gân lá cũng mất màu xanh; khi bị thiếu hụt, thường các lá non biểu hiện triệu chứng mạnh nhất. Khi tình trạng thiếu hụt được phục hồi, những lá mới sẽ có màu xanh sáng, bỏ lại phía dưới những lá biến vàng trước đó.

    2. Nguyên tố Boron – B

    - Hàm lượng & sự phân bố: Trong cây hàm lượng boron giao động từ 2- 100mg/kg. nhìn chung cây 2 lá mầm có nhu cầu về boron cao hơn cây 1 lá mầm; thân, cành cần nhiều boron hơn phần rễ; bộ phận sinh sản cần nhiều hơn bộ phận sinh dưỡng.

    + Cây huy động boron chủ yếu dưới dạng acid boric (H3BO3) bằng cả hai phương thức bị động & chủ động. Mối quan hệ tuyến tính giữa sự hấp thu B với tỷ lệ tích lũy và thoát hơi nước của cây được thiết lập thể hiện phương thức bị động. Những loài khác nhau biểu hiện tỷ lệ tích lũy boron khác nhau, ngay cả khi được gieo trồng trong những điều kiện môi trường giống nhau (thể hiện phương thức hấp thu chủ động ). Như vậy cây huy động boron bằng cả phương thức khuyếch tán bị động và quá trình hấp thu chủ động.

    + Trong cây boron tương đối bất động, nó được vận chuyển chủ yếu qua mạch gỗ và được tích lũy phần lớn ở những lá già.

    - Chức năng sinh lý của B :

    + Boron tham gia vào cấu trúc của vách tế bào: Có tới hơn 90% lượng B tập trung ở vách tế bào; chúng tồn tại dưới dạng este borat. Cơ chế liên kết chéo tạo polymer của vách tế bào đã ổn định cấu trúc của vỏ tế bào.

    + Trong trao đổi chất và vận chuyển CHO: Một trong những triệu chứng khác biệt của sự thiếu hụt boron là làm suy giảm khả năng vận chuyển CHO trong cây; Lý thuyết phức hợp đường-borat giải thích điều này, theo đó dạng đường saccarose chỉ giảm đi khi phức hợp với boron và trong cơ chế nạp (tích lũy) saccarose của libe không có sự tham gia của boron.

    Có thể một ảnh hưởng gián tiếp, theo đó xuất hiện sự tạo callose trong những ống mạch hoặc sự thiếu vắng tính lắng đọng ở đỉnh ngọn và rễ.

    + Trong phát triển các cơ quan sinh sản: B có vai trò quan trọng trong việc nảy mầm của hạt phấn và sự sinh trưởng của ống phấn nhờ vào ảnh hưởng quan trọng của B lên sự tổng hợp vỏ tế bào và tính nguyên vẹn của màng sinh chất.

    + Tham gia vào quá trình trao đổi auxin (IAA ), phenol và lignin.

    + Tham gia vào các chức năng khác như: phân bào & sinh trưởng tế bào; tổng hợp AND & ARN; ổn định màng sinh chất; quá trình cố định đạm.

    - Triệu chứng của sự thiếu hụt boron trong cây :

    + Trước tiên, làm chậm hoặc rối loạn sự sinh trưởng của các điểm sinh trưởng ngọn của thân chính rồi lan sang các ngọn cành; tiếp theo các đỉnh sinh trưởng ngọn bị chết. Điển hình thường thấy trên các cây thuộc họ cải như thối lõi ở cây củ cải đường, ruột biến màu nâu ở củ cải, hiện tượng nứt thân ở cây cần tây, hiện tượng teo ngọn ở thuốc lá, hiện tượng xơ hóa hoặc ruột bị biến màu nâu trên táo và hiện tượng thoái hóa hoa, quả, hạt v v…

    + Nặng hơn sẽ làm các lá bị quăn và biến màu sang xanh bạc và có xu hướng biến vàng.

    3. Nguyên tố Mangan – Mn - Hàm lượng và sự phân bố trong cây: Hàm lượng Mn trong mô cây trồng nhìn chung biến động từ 20-100 mg/ kg và rất khác nhau tùy theo loại cây trồng.

    Cây trồng hấp thu Mn chủ yếu ở dạng Mn2+.

    Trong cây Mn gần như là nguyên tố bất động và gần như không được di chuyển qua mạch dây.

    - Chức năng sinh lý trong cây:

    + Đối với quang hợp: Mn tham gia xúc tác cho phản ứng quang phân ly nước thành H2 & O2 thuộc hệ quang hóa II ( PSII ) của quá trình quang hợp.

    + Tham gia kích hoạt enzyme: Mn tác động như là trung tâm hoạt động kích hoạt khoảng 35 enzymes khác nhau trong cây: Enzyme Decarboxylases và dehydrogenases của chu trình acid citric; enzyme chloroplast RNA polymerase; một vài enzymes của quá trình đường phân; hoạt hóa enzyme IAA oxydase vv...

    - Khi thiếu hụt Mn: Triệu chứng đầu tiên được xác nhận là sự biến vàng thành xọc xen kẽ ở những lá non hơn. Ở ngũ cốc, trên phiến lá xuất hiện những xọc hoặc những đốm nâu hơi lục.

    - Cây bị ngộ độc do thừa Mn chỉ thấy trên những chân đất chua hoặc rất chua. Trong cây nếu hàm lượng Mn ở mức 600 mg/kg sẽ làm cho cây bị ngộ độc. Triệu chứng ngộ độc thường thấy là những đốm nâu trên các lá già.

    4. Nguyên tố Đồng – Cu - Hàm lượng và sự phân bố: Ở hầu hết các loại cây trồng, hàm lượng đồng chiếm từ 5-25 mg/kg, chúng tập trung chủ yếu ở những lá non và hạt; ít có ở thân và lá già.

    Cu di động trong cây tùy thuộc vào lượng cung cấp; khi thiếu, nó ở dạng di động, ngược lại nó ở dạng bất động.

    - Chức năng sinh lý:

    + Vai trò trong phản ứng ô xy hóa khử: Cu là một nguyên tố biến động, nó có thể chuyển từ Cu2+ sang Cu+. Đồng tham gia vào phản ứng ô xy hóa khử như là một thành phần của enzyme; như plastocyanin, superoxide dismutase, xitochrome oxidase, phenol oxidase, ascorbate oxidase v v…

    + Tham gia thành phần protein và quang hợp: Có khoảng 70% lượng đồng trong lục lạp, và hơn 50% trong số đó liên kết với protein xanh (plastocyanin). Plastocyanin là thành phần của chuỗi vận chuyển điện tử trong hệ quang hóa I.

    + Có vai trò trong trao đổi N và cố định N

    + Tham gia vào việc hình thành hạt phấn và quá trình thụ tinh.

    - Thiếu đồng : Ảnh hưởng mạnh đến quá trình hình thành quả, hạt hơn so với các bộ phận sinh trưởng sinh dưỡng. Nguyên nhân giảm quá trình hình thành các cơ quan sinh sản là do khả năng chết yểu của hạt phấn do thiếu đồng gây ra.

    Trên thực tế, ít thấy có hiện tượng thiếu đồng, nhưng những lá non có thể trở nên xanh đậm, bị quăn và biến dạng. Thông thường thấy biểu hiện những đốm khô mầu nâu. Triệu chứng điển hình của sự thiếu đồng là sự biến vàng (bệnh trắng đọt - bạch tạng ), chết hoại, lá biến dạng và chết cành. Triệu chứng thông thường nhất của sự thiếu đồng là giảm năng suất quả, hạt do bất dục hạt phấn.

    Sự thiếu đồng thường thấy trên những chân đất nhiều hữu cơ ( nhiều phân chuồng hoặc than bùn ) và trên những chân đất cát thiếu hữu cơ.

    Sự huy động Cu của cây sẽ bị giảm khi pH tăng; việc tăng cường hàm lượng lân và sắt hữu hiệu trong đất cũng làm giảm khả năng hấp thu Cu của cây.

    5. Nguyên tố Kẽm – Zn :

    - Hàm lượng và sự phân bố: Thông thường, trong cây hàm lượng kẽm biến động từ 25 – 150 mg/kg tùy theo loài hoặc giống cây; và hầu như được tập trung ở ngọn cây và lá non; hàm lượng kẽm trong rễ nhiều hơn ở ngọn cây. Cây sẽ bị thiếu kẽm khi hàm lượng tụt xuống dưới 20 mg/kg; khi thiếu, kẽm có thể chuyển từ lá già sang lá non.

    - Chức năng sinh lý :

    + Kẽm là thành phần và khích hoạt enzyme: Zn có trong thành phần các enzyme như Alchohol dehydrogenase, cacbon anhydrase, CuZn- superoxide dismutase, RNA polymerase. Kẽm tham gia kích hoạt các enzyme như Dehydrogenase, aldolase, inorganic pyrophosphatase.

    + Kẽm có vai trò trong tổng hợp auxine ( IAA ): Zn có thể cải thiện sự tổng hợp tryptophan từ indole và serine để tổng hợp nên IAA.

    Những triệu chứng của sự thiếu hụt kẽm hầu như đều làm cây chậm sinh trưởng và lá nhỏ.

    + Kẽm có ảnh hưởng tới quá trình trao đổi protein: Zn là thành phần của RNA polymerase, là thành phần cấu trúc của ribosome và rất cần thiết cho sự hoàn thiện cấu trúc của chúng.

    - Khi thiếu hoặc thừa kẽm: Kẽm ở dạng bất động trong cây nên triệu chứng thiếu hụt kẽm biểu hiện chủ yếu ở những bộ phận mới sinh trưởng; triệu chứng rõ nhất của sự thiếu hụt kẽm là các lóng (đốt) thân, cành ngắn và kích thước lá bị suy giảm. Trên bắp, có những xọc biến vàng dọc theo gân lá; trên cây đậu có hiện tượng xuất hiện những đốm, những vằn khô trên lá; trên cây lúa xuất hiện sự biến vàng … là triệu chứng điển hình của sự thiếu hụt kẽm.

    Sự thiếu hụt kẽm thường thấy khi thời tiết lạnh, ẩm liên quan tới sự suy giảm sinh trưởng của bộ rễ cũng như hạn chế sự hoạt động của các vi sinh phóng thích Zn từ các hợp chất hữu cơ có trong đất.

    Sự hấp thu Zn của cây sẽ bị giảm khi pH tăng lên. Sự hấp thu Zn của cây cũng tỷ lệ nghịch với hàm lượng P và Fe hữu hiệu trong đất.

    6. Nguyên tố Molipđen – Mo:

    - Hàm lượng và sự phân bố: Thông thường hàm lượng Mo trong cây ở mức 1 mg/kg hoặc thấp hơn đối với các mô lá; trung bình từ 0,33 – 1,5 mg/kg ở những cây thân cỏ và 0,73 – 2,3 mg/kg ở các cây họ đậu. Sự phân bổ hàm lượng Mo trong cây đậu ở thời kỳ chín là : 0,17 mg/kg ở lá; 1,0 mg/kg ở thân; 0,5 mg/kg ở vỏ quả; 12 mg/kg ở hạt. Hàm lượng Mo cao trong hạt khẳng định chắc chắn rằng cây giống sẽ sinh trưởng hợp lý và sau này sẽ đạt năng suất hạt cao khi gieo trồng trên những vùng đất thiếu Mo hữu hiệu.

    Cây trồng hấp thu Mo chủ yếu dưới dạng MoO42- và HMoO41-

    Trong cây Mo di động khá mạnh trong các mạch gỗ và mạch libe với khoảng cách khá dài.

    Những nghiên cứu mới đây cho thấy: Mo dưới dạng MoO42- có vẻ như được vận chuyển nhiều hơn dưới dạng phức hợp.

    - Chức năng sinh lý:

    + Chức năng sinh lý quan trọng nhất của Mo là làm giảm hàm lượng NO31- và cố định ni tơ phân tử (N2 ). Cơ chế của sự xúc tác hệ thống ô xy hóa khử tùy thuộc vào hóa trị của Mo. Trong giai đoạn ô xy hóa, molipđen tồn tại dưới dạng Mo (VI ), và được giảm xuống Mo(V) và Mo (IV ).

    + Mo là thành phần kim loại của enzyme Niteratase

    + Trong cố định N: Mo là yếu tố hợp thành của enzyme Nitrogenase, một enzyme cơ bản trong các loại enzyme cố định đạm, chúng xuất hiện ở nốt sần của cây họ đậu và không phải họ đậu dưới dạng hai loại metaloprotein ( Mo-Fe-S protein và FeS cluster protein).

    Điện tử từ ferredoxine mức thấp được chuyển tới Fe-protein , rồi tới Mo-Fe-protein từ đó điện tử được chuyển trực tiếp tới N2 và biến nó thành NH3 + Đối với các quá trình trao đổi chất khác: Mo cần thiết cho quá trình trao đổi đạm, quá trình sinh tổng hợp protein, quá trình trao đổi phosphat và acid nucleic.

    - Chuẩn đoán sự thiếu hụt Mo: Triệu chứng ban đầu của sự thiếu hụt Mo là xuất hiện những đốm thành dạng vệt xanh vàng hoặc cam nhạt, tiếp theo là héo và chết hoại rìa lá cùng với sự cong vênh của những vùng mép lá. Tuy nhiên ở một số loại cây trồng biểu hiện của sự thiếu hụt Mo còn đặc biệt hơn; như lá hình đuôi quạt ở suplơ, đốm vàng ở cây có múi...

    - Triệu chứng ngộ độc Mo ở cây trồng trong điều kiện canh tác là rất ít. Ở một số đất có độ pH cao, một số loại cây trồng có thể tích lũy đủ Mo để phát triển hội chứng ngộ độc Mo (molipdenosis) đối với các loài nhai lại. Hội chứng Molipdenosis xuất hiện là do sự mất cân bằng giữa Mo và Cu trong khẩu phần ăn của động vật nhai lại. Động vật nhai lại rất mẫn cảm với nồng độ Mo quá cao.

    Nhìn chung đất trên thế giới chứa hàm lượng Mo hữu hiệu ở mức 0,01 – 12,0 mg/kg. Mo có mấy mức hóa trị, nhưng chủ yếu là Mo4+ và Mo6+. Thông thường Mo6+, một oxy acid, dễ dàng tác dụng với K, Na, Mg để tạo thành dung dịch muối molipdat (MoO42- ) hoặc giảm xuống thành MoO2 hoặc Mo2O5 ; hàm lượng Mo hữu hiệu lệ thuộc chặt vào độ pH đất.

    Giá trị Mo trong đất = pH + hàm lượng Mo hữu hiệu x 10. Khi giá trị Mo trong đất nhỏ hơn 6,2 thì nguồn Mo trong đất là rất thấp; khi trị số trên 8,2 thì nguồn Mo trong đất là thiếu. Tuy nhiên lượng Mo trong đất không phù hợp với các chân đất vôi.

    7. Nguyên tố chlor – Cl : + Trong quang hợp : Cl- tăng cường cả sự phosphoril hóa ô xy hóa lẫn quang phosphoryl hóa. Cl- cần thiết cho sự tập hợp riêng biệt của hệ thống quang hóa II bao gồm 4 nguyên tử Mangan.

    + Trong chức năng thẩm thấu của tế bào: Cùng với K+, Cl- là nguyên tố chính ảnh hưởng đến sự thấm, lọc qua không bào của mô thực vật.

    + Chức năng kích hoạt ATPase: Những enzyme nhỏ bé, đón nhận năng lượng ánh sáng, được tọa lạc trên những thanh lục lạp, không chịu ảnh hưởng của những cation hóa trị 1 nhưng lại bị kích thích đặc biệt bởi Cl-

    + Chức năng hạn chế bệnh hại...