Chế biến thức ăn xanh đúng cách để vật nuôi ăn tốt và bớt lãng phí
-
Thử nhìn vào máng ăn cuối buổi. Nếu lá đã hết mà thân cỏ còn nguyên, hãy bắt đầu kiểm tra từ tuổi cỏ và cách chế biến. Nếu thức ăn còn nhiều, ướt và có mùi khác thường, cần kiểm tra cả lượng cho ăn lẫn thời gian để trong máng. Phần bỏ lại là một đầu mối để tìm nguyên nhân, chưa đủ để kết luận đàn vật nuôi đang thiếu hay thừa dinh dưỡng.
-
Với hộ nuôi kết hợp bò, dê và gia cầm, khâu chuẩn bị thức ăn càng cần phân rõ. Cùng một vạt cỏ nhưng không nhất thiết cùng cách băm, cùng lượng dùng hoặc cùng cách phối trộn. Bắt đầu từ nhu cầu của từng đàn sẽ dễ quyết định phải chế biến đến mức nào.
1. Cỏ tốt phải được chọn từ ngoài ruộng
-
Đừng đợi thân cỏ quá già mới cắt cho được nhiều cân. Khi cây già, tỷ lệ thành tế bào và lignin tăng, khả năng tiêu hóa thường giảm. Lignin có thể hiểu là thành phần làm mô thực vật cứng, khó bị vi sinh vật dạ cỏ phân giải. Mẻ cỏ nặng hơn chưa chắc cung cấp nhiều dinh dưỡng sử dụng được hơn.
-
Với cỏ trồng, nên theo lịch thu cắt của giống và điều kiện thực tế tại ruộng. Quan sát thêm tỷ lệ lá, độ cứng của thân và tốc độ tái sinh qua từng lứa. Không nên lấy một số ngày cố định áp cho mọi mùa, bởi cùng giống cỏ nhưng tốc độ phát triển có thể khác nhau.
-
Băm nhỏ giúp thay đổi cấu trúc nguyên liệu, thuận tiện cho ăn và phối trộn. Tuy nhiên, băm không làm phần thân đã hóa già trở lại như cỏ non. Vì vậy, khi vật nuôi thường xuyên bỏ thân, nên kiểm tra lại cả thời điểm thu hoạch trước khi chỉ tăng độ mịn của máy.

Chọn cỏ đúng lứa, loại tạp chất trước khi băm.
2. Tính thức ăn bằng dinh dưỡng, đừng chỉ nhìn số cân
-
Chất khô là phần thức ăn còn lại sau khi loại nước. Đây là khái niệm rất hữu ích khi so sánh rau, cỏ tươi với nguyên liệu khô. Hai xe cỏ cùng khối lượng vẫn có thể mang lại lượng chất khô khác nhau. Độ ẩm là một lý do khiến việc cân thật nhiều nguyên liệu chưa phản ánh đúng mức cung cấp dinh dưỡng.
-
Lấy một ví dụ giả định: 10 kg cỏ chứa 20% chất khô cung cấp 2 kg chất khô; 10 kg cỏ chứa 15% chỉ cung cấp 1,5 kg. Hai mẻ bằng cân nhưng chênh nhau 0,5 kg chất khô. Đây là phép tính minh họa, không phải hàm lượng mặc định của cỏ tại mọi trang trại.
-
Khi thay đổi nguồn thức ăn, cần xem thêm đạm, năng lượng, xơ và khoáng. Cùng lượng chất khô cũng chưa có nghĩa là hai nguyên liệu thay thế được cho nhau. Với trại dùng lượng lớn, phân tích mẫu thức ăn sẽ cho căn cứ phối trộn rõ hơn việc chỉ dựa vào màu xanh hay cảm giác mềm tay.
3. Bò và dê cần thức ăn có cấu trúc phù hợp
-
Với gia súc nhai lại, mục tiêu là chuẩn bị thức ăn vừa dễ ăn vừa duy trì phần xơ phù hợp trong khẩu phần. Thuật ngữ xơ có hiệu quả vật lý nói đến khả năng của phần xơ trong việc kích thích nhai và nhai lại. Vì vậy, độ nhỏ của cỏ cần được xem cùng các thức ăn khác mà đàn đang nhận.
-
Cỏ quá dài có thể khiến bò lựa lá, bỏ thân; nhưng nghiền toàn bộ thức ăn thô thành dạng quá nhỏ cũng có thể làm giảm tác dụng kích thích nhai lại. Một mẻ cỏ nhìn mịn, đều chưa đủ để kết luận khẩu phần đã tốt. Cần xem lượng ăn, phần bỏ thừa và hoạt động nhai lại của đàn.
-
Khi đổi cách băm, nên thử trên một lượng nguyên liệu vừa phải và theo dõi trước khi áp dụng rộng. Ghi lại loại cỏ, lứa cắt, cách phối trộn và phần còn trong máng. Không lấy một kích thước băm được hướng dẫn cho bò sữa áp nguyên xi cho dê hoặc mọi giai đoạn nuôi.

Cỏ cho bò cần được băm phù hợp, giữ phần xơ cần thiết trong khẩu phần.
4. Gà, vịt cần cách sử dụng thức ăn xanh riêng
-
Rau, cỏ phù hợp làm thức ăn, được băm nhỏ, có thể là một phần bổ sung được tính toán trong khẩu phần. Giá trị của phần bổ sung này phụ thuộc loại nguyên liệu, mức sử dụng và thành phần thức ăn còn lại. Không nên thấy gia cầm ăn được rau xanh rồi suy ra có thể tăng tùy ý hoặc thay phần lớn thức ăn chính.
-
Thức ăn hoàn chỉnh được phối chế để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng theo đối tượng nuôi. Gà thịt, gà đẻ và vịt ở các lứa tuổi có nhu cầu khác nhau. Trộn thêm nhiều rau cỏ vào lượng thức ăn ấy có thể làm thay đổi mật độ dinh dưỡng; dùng một công thức chung cho cả đàn sẽ khó kiểm soát.
-
Nếu tự phối trộn, cần có công thức phù hợp với nguyên liệu thực tế. Không quy đổi một kilôgam rau tươi thành một kilôgam cám, cũng không lấy độ mịn làm bằng chứng thức ăn đã đủ chất. Theo dõi lượng ăn, tốc độ tăng khối lượng hoặc sản lượng trứng mới giúp đánh giá cách cho ăn có đáp ứng mục tiêu hay không.
5. Tổ chức một buổi chế biến cho gọn và sạch
-
Có thể bố trí công việc theo thứ tự thu gom, loại tạp chất, băm, chuyển đến nơi phối trộn rồi đưa ra máng. Chuẩn bị sẵn dụng cụ chứa trước khi vận hành sẽ giảm cảnh nguyên liệu đã băm xong nhưng phải đổ tạm xuống nền. Khu vực đặt máy cũng nên thuận đường đưa cỏ vào và chuyển thức ăn ra.
-
Chỉ chuẩn bị lượng thức ăn xanh phù hợp với kế hoạch cho ăn. Phần dùng tươi nên được đưa ra sử dụng sớm; phần dành để dự trữ phải chuyển sang quy trình bảo quản đã chọn. Không gom thức ăn thừa có dấu hiệu hư hỏng vào mẻ mới. Thức ăn có mốc hoặc mùi hỏng cần được loại khỏi khâu cho ăn.
-
Sau mỗi đợt chế biến, thu dọn nguyên liệu sót ở dụng cụ chứa và khu vực phối trộn. Giữ máng ăn, máng uống sạch, hạn chế thức ăn bị mưa tạt hoặc nước uống làm ướt kéo dài. Riêng vệ sinh hay xử lý kẹt máy, phải cô lập nguồn điện để tránh khởi động lại, chờ các bộ phận dừng hẳn và làm theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
6. Cỏ dư nên có kế hoạch dự trữ từ đầu
-
Khi có nhiều cỏ hơn nhu cầu dùng tươi, có thể tính đến ủ chua cho gia súc ăn cỏ. Đây là quá trình bảo quản bằng lên men trong điều kiện yếm khí, tức môi trường hầu như không có oxy, được tạo ra bằng cách nén chặt và bịt kín nguyên liệu. Độ ẩm, nguồn đường lên men và độ kín đều ảnh hưởng đến kết quả, nên chỉ băm rồi chất thành đống chưa phải quy trình ủ chua.
-
Băm giúp nguyên liệu dễ nén chặt hơn. Tuy vậy, độ nhỏ cần phù hợp với loại thân lá và độ ẩm thực tế. Cỏ quá ướt hoặc nguyên liệu khó lên men cần được xử lý theo hướng dẫn riêng. Không nên áp một công thức phụ gia cho mọi loại cỏ, thân ngô hay phụ phẩm chỉ vì chúng cùng có màu xanh.
-
Với hộ nhỏ, nên chọn quy mô bao, thùng hoặc hố ủ tương ứng với lượng sử dụng sau khi mở. Làm một mẻ thật lớn nhưng lấy rất chậm sẽ kéo dài thời gian thức ăn tiếp xúc với không khí. Nguyên liệu sạch, thao tác nén và đóng kín kịp thời, bảo vệ lớp bao phủ là những việc cần chuẩn bị ngay từ đầu.

Nén chặt nguyên liệu và đóng kín thùng là những bước cần làm kỹ khi ủ chua.
7. Chọn thiết bị theo lượng việc thực tế mỗi ngày
-
Trước khi chọn máy, hãy ghi ba con số: lượng nguyên liệu cần xử lý trong ngày, thời gian có thể dành cho công việc và số người tham gia. Sau đó xác định loại cỏ thường dùng, yêu cầu đầu ra và điều kiện điện tại nơi đặt máy. Những thông tin này hữu ích hơn việc chỉ so tên model hoặc nhìn kích thước thân máy.
-
Băm, vò và nghiền tạo ra đầu ra khác nhau. Băm chủ yếu cắt ngắn thân lá; vò làm dập, xé cấu trúc; nghiền tiếp tục làm nhỏ nguyên liệu. Có thiết bị kết hợp nhiều thao tác, nên khi xem máy, hãy hỏi rõ đầu ra và cấu hình xử lý thay vì chỉ dựa vào chữ “siêu mịn”.
-
Khi tìm phương án cơ giới hóa, người nuôi có thể tham khảo máy băm cỏ mịn BM-1.0T và BM-1.8T của Tháp Xanh. Hai mẫu thuộc nhóm thiết bị băm nghiền nguyên liệu phục vụ chăn nuôi. Khi trao đổi, nên mang theo thông tin về loại nguyên liệu và nhu cầu từng đàn để được đối chiếu cấu hình phù hợp.
-
Nên đề nghị chạy thử bằng chính loại cỏ hoặc thân cây dự định sử dụng. Cân nguyên liệu, đo thời gian, kiểm tra sản phẩm đầu ra và tính cả công thu gom, vận chuyển, vệ sinh. Nếu dùng cho bò, dê, cần xem phần cỏ sau chế biến sẽ nằm ở đâu trong tổng khẩu phần. Máy xử lý nhanh là một lợi thế; chất lượng bữa ăn vẫn phụ thuộc cách sử dụng.

Minh họa bố trí máy băm cỏ mịn BM-1.8T tại khu sơ chế thức ăn xanh.
8. Kiểm tra hiệu quả ngay tại máng ăn
-
Bắt đầu bằng một cuốn sổ đơn giản. Ghi lượng thức ăn đưa vào, phần thu hồi, phần rơi vãi và thời gian chuẩn bị mỗi ngày. Mô tả thêm phần bỏ lại chủ yếu là thân cứng, lá hay hỗn hợp đã ướt. Nhờ vậy, khi thay đổi cách thu cắt hoặc băm, người nuôi có dữ liệu để so sánh.
-
Chẳng hạn, một ngày đưa vào máng 100 kg thức ăn xanh và thu lại 12 kg thì tỷ lệ thức ăn thừa thu gom được theo khối lượng tươi là 12%. Đây chỉ là ví dụ tính toán. Con số đó không đồng nghĩa đàn đã hấp thu 88% dinh dưỡng, vì còn ảnh hưởng của độ ẩm, rơi vãi và khả năng tiêu hóa.
-
Khi đối chiếu các đợt nuôi, nên giữ điều kiện so sánh gần nhau về số lượng vật nuôi, loại nguyên liệu và thời điểm cân. Đánh giá đồng thời lượng ăn, kết quả sản xuất và công lao động. Giảm phần bỏ thừa là mục tiêu tốt, nhưng không nên cố đạt máng sạch bằng cách cắt thiếu thức ăn cần thiết.
-
Một thay đổi đáng giữ lại là thay đổi có thể duy trì hằng ngày: thu cỏ đúng lứa, chế biến vừa mức, chia lượng hợp lý và dọn máng đều. Khi từng khâu được làm ổn định, người nuôi sẽ biết chỗ nào đang tốn công, chỗ nào đang hao thức ăn và cần điều chỉnh điều gì trước.

Cân phần thức ăn còn lại để có căn cứ điều chỉnh những bữa sau.
QUANG LUÂN
Thông tin liên hệ
- Hotline : (+84) 0965 524 005
- Kinh Doanh 1 : 0971 454 147
- Kinh Doanh 2 : 0348 233 006
- Kinh Doanh 3 : 0867 710 895
- Kinh Doanh 4 : 0347 944 005
- Kinh Doanh 5 : 0347 667 006
- Kinh Doanh 6 : 0383 224 005
- Kinh Doanh 7 : 0395 767 006
- Tp. HCM : (+84) 0904 746 368
- Kỹ Thuật : (+84) 0985 256 637
- Email : kinhdoanh@thapxanh.com
- Website : https://thapxanh.com
- Facebook : https://www.facebook.com/thapcayxanh
- Twitter : https://twitter.com/ThapXanh
- Youtube : https://www.youtube.com/c/thapxanhtv